Skip to content Skip to main navigation Skip to footer

Tổ tiên dòng họ Nguyễn Xuân và cuộc thiên di qua đèo Ngang

Tổ tiên dòng họ Nguyễn Xuân gốc huyện Tống Sơn (tức huyện Hà Trung ngày nay) tỉnh Thanh Hóa, đã theo Chúa Nguyễn Hoàng vào đàng trong di dân lập ấp. Vào vùng đất Châu Ô, Châu Lý – sau này là vùng đất Thuận Hóa, các Ngài đến làng Chánh Lộc, tổng Vĩnh Xương, phủ Hương Trà, nay thuộc xã Phong Lộc, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế thì dừng chân, khai phá rừng cây lau sậy để canh tác ruộng, vườn, sinh sống, và đã lập nên họ Nguyễn tại đây. 

Phong cảnh Hà Trung hiện nay
Sơn thủy Hà Trung hiện nay

Con cháu sinh sôi, nảy nở. Để có đất canh tác làm ăn, một bộ phận bậc tiền nhân di lần xuống hướng Đông Nam, dừng chân lại làng Phong Lai Hà thuộc xã Quảng Thái, huyện Quảng Điền ngày nay. Con cháu đông đã lập nên thêm Nguyễn Xuân tại đây. 

Đến đời thứ sáu, ông Nguyễn Văn Điền, sinh hạ nhiều con trai, con gái, các anh chị ở lại làng Phong Lại Hà thuộc dòng trưởng. Người em là Nguyễn Văn Diên (tức Dược) di cư về vùng Vĩnh Sia thuộc địa phận làng Thạch Bình, huyện Đan Điền, nay thuộc huyện Quảng Điền. Theo lời kể lại, Ngài làm nghề thuốc, chữa bệnh cho nhân dân trong vùng. Ngài có nhiều người con, người con trưởng về làng Tráng Lực lập họ Nguyễn tại đây (Phái Nguyễn Ngọc Thứ). Một người về làng Thuận Hóa xã Hương Phong – Hương Trà, trước năm 1945 con cháu có về họ gốc làng Thạch Bình. Một người về làng Lai Hà, một làng ven phá ngày nay thuộc xã Quảng Thái. Các con cháu hai bậc tiền nhân này từ năm 1946 đến nay không còn tin tức gì nữa. Một người con thứ lập họ Nguyễn Xuân làng Thạch Bình.

Về họ chính ở làng Chánh Lộc, năm 1958, nhà thờ họ làm lại. Ngày khánh thành có giấy mời phái Thạch Bình và phái Tráng Lực ra dự lễ tế Ngài. Nhưng kế tiếp đó đến nay, con cháu ở quê hương Thị Trấn Sịa không còn liên lạc gì nữa; bởi lẽ, ở mỗi quê nhà đều có nhà thờ họ. 

Xin ghi lại để làm tài liệu cho con cháu mai sau, để biết được gốc tích dòng họ và kế tục lưu truyền. Từ đời thứ nhất đến đời thứ 13 đều ghi rõ ràng trong tập gia phả này. 

Kể từ đời thứ 14 các cháu hậu sinh tiếp tục cập nhật.

Làm tại Sịa, ngày 15 tháng 01 năm 2009.  Các con cháu hệ phái họ Nguyễn Xuân Thạch Bình Trùng tu Gia Phả họ Nguyễn

Phái làng Thạch Bình Mùa đông – Kỷ Sửu – năm 2009 

Bái Lập 

Trưởng tộc: Đời thứ 11 Nguyễn Sản

Nguyễn Lộc (đời thứ 12) chấp bút

Miếu Triệu Tường, miểu tổ họ Nguyễn ỡ Hà Trung
Miếu Triệu Tường miếu tổ nhà Nguyễn ở Hà Trung

Read more

Những câu chuyện của dòng họ

NGUYỄN VĂN QUYỀN, đời thứ 9, và là con thứ 3 ông Đốc

Thưở nhỏ theo Nho học. Lý hào trong làng bức niết vì lí do là dân ngụ cư. Ông không chịu khuất phục. Gặp khoa thi, mang lều chõng lên kinh đô Huế, đỗ đạt, làm thư lại tại Bộ Công hơn 5 năm.

Sau về làng chờ bổ dụng vào bộ lễ. Trong thời gian đó ông lập chùa thờ phật, tu tại gia được phong làm Phước Nguyên Đại Sư. Sau chùa được cúng dường cho làng Thạch Bình. Chùa bị Tây đốt còn lại cái chuông đồng đang thờ trong chùa mới của làng Thạch Bình ngày nay.

Ông có 7 con thì có 2 con là ông Khánh, và ông Úy. Tham dự kỳ thi hương cuối cung triều đình nhà Nguyễn năm 1919, tức triều Khải Định, hai ông đều đỗ tú tài. Ông Khánh đi khai hoang lập đồn điền tại Thanh Tân Ồ Ồ – xã Phong Mỹ huyện Phong Điền ngày nay. Ông Khánh bị sốt rét mất sớm lúc mới 28 tuổi. Ông Úy làm thầy đồ dạy học ở quê nhà.

NGUYỄN VĂN NIÊN, đời thứ 10, con trưởng ông Hưu

Thuở nhỏ ở với cụ Cố Quyền (Đắc). Lớn đi lính Lệ canh gác Hoàng Thành Huế. Lúc đó, Vua Duy Tân lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Pháp cùng các ông Trần Cao Vân, Trần Quý Cáp. Cuộc kháng chiến thất bại. Cụ Ông Niên (tức Phong) phò vua Duy Tân lánh nạn. Dọc đường ông bị giặc Pháp bắt, sau nhờ bà vợ ông Quan ba Pháp xin tha chết, nhưng bị dày ra vùng rừng núi Nghệ An. Khí hậu vùng rừng núi khắc nghiệt nên cụ ông bị bệnh chết tại đây. Lăng mộ tại bổn xã làng Thạch Binh. Thời gian phục vụ triều đình nhà Nguyễn ông lên chức đội.

Read more

Ý tưởng ghi nhớ công đức Tổ Tiên của con cháu dòng họ đối với các bậc tiền nhân

Chân lý muôn đời “ Mộc tất hữu bổn”. “Thủy tất hữu nguyên”. “Nhân tất hữu Tổ Tiên”, suy ra: “Cây có cội” “Nước có nguồn”. “Người có tổ tiên” 

Từ đó lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ kia, đời đời kế tiếp. 

“Tạo vật gốc từ trời” 

“Người gốc từ tổ tiên” 

Nước chảy quanh co, muôn sông, ngàn suối đều xuất phát từ nguồn mà ra. 

Cây cối sum sê, muôn lá, ngàn cành đều sinh ra từ gốc. Mộc do gốc. Nước do nguồn. Tạo vật nước và cây do nguồn và gốc muôn đời không đổi thay. 

Chim có tổ, người có tông 

Cho nên con cháu trong dòng họ ghi chép phổ hệ vào gia phả, cốt yếu để con cháu kế tiếp nhận biết đời này, qua đời kia hiểu tường tận hệ phái của mình mà không có sự nhầm lẫn. 

Mỗi họ có một cuốn gia phả mà các ngài để lại bằng Hán Tự rõ ràng. Từ đời thứ nhất là Ngài Thủy Tổ, từ đó bổ sung các đời, các chi kế tiếp. 

Con cháu ngày nay không theo đời nho học, không viết và đọc được chữ Hán, nên xin các Ngài cho con cháu được dịch ra chữ Quốc Ngữ để khỏi mất gốc. Thế hệ sau bổ sung chữ Quốc Ngữ được thuận tiện để ghi nhớ hệ phái của mình. 

Với mong muốn sự tồn vinh của dòng họ, con cháu tự hào tổ tiên, nhìn về quá khứ, hướng tới tương lai, giữ nếp gia phong, trau dồi học tập văn hóa, phát huy kinh tế, lấy đạo đức làm gốc, rạng danh dòng họ, để các Ngài tự hào con cháu mình là dòng họ Văn Nhân, có địa vị trong cộng đồng làng xã. 

Kính cẩn – con cháu đời thứ 12 

Mùa Đông Kỷ Sưu – 2009

Read more