Skip to content Skip to main navigation Skip to footer

Quảng Điền quê ta

(Kính tặng bà con đồng hương huyện Quảng Điền)

Xuân lại đến rồi đi rồi lại đến 
Em vẫn chờ vẫn đợi mấy mùa qua
Anh đã hẹn hãy về thăm một chuyến
Để luôn còn nhớ Quảng Điền quê ta.

Anh sẽ thấy các làng xã của Huyện
Qua Quảng Công Quảng Ngạn thăm ngư dân
Nghe điệu lý “ra khơi” bắt hải sản
Nghe câu hò “bám biển” vượt khó khăn

Quay bước lại lên Quảng Thái Quảng Lợi
Bãi cát dài xanh lá thuốc Phong Lai
Khoai lang tím đang trên đà sản xuất
Qua Hàn sang Nhật bền vững lâu dài.

Ở đâu có ngành nghề Mây Tre Lá
Tới Bao La Quảng Phú được xem qua
Đẹp mặt quá các mặt hàng mỹ nghệ
Trên thị trường nước bạn lắm người mua

Đến Quảng Thọ xem trồng cây rau má
Chế biến trà bởi nhà máy Công ty
Trà rau má ngăn ngừa cao huyết áp
Giúp tăng cường sức khỏe tuổi già nua.

Vùng cát trắng Quảng Vinh nhiều trang trại
Trại gia cầm nuôi đà điểu,vịt,gà
Trại gia súc rất nhiều bò nhiều lợn
Thêm ao hồ nuôi cá nhập nguồn thu.

Anh còn nhớ Phá Tam Giang kỷ niệm
Đến bên bờ vui thấy những đìa tôm
Để cung ứng cho Trung Tâm chế biến
Nguồn lợi thu xuất khẩu được nhiều hơn.

Rau xanh sạch Quảng Thành rất nổi tiếng
Bởi tay nghề chuyên nghiệp khéo vun trồng
Các siêu thị - thị trường Thành phố Huế
Rau Quảng Thành vô chợ chẳng về không.

Sớm Quảng Phước ra đồng gieo cấy giống
Chiều Quảng An xuống ruộng đắp bờ đê
Là trọng điểm chuyên trồng cây lúa nước
Mùa bội thu chan chứa đẹp tình quê

Chợ Sịa cũ nay thành xưởng may mặc
Tạo việc làm cho lao động địa phương
Đạt tiêu chuẩn được hợp đồng xuất khẩu
Góp sức mình sáng tạo để thành công.

Chợ Sịa mới - một trung tâm thương mại
Kẻ bán người mua tấp nập suốt ngày
Cầu đường mở rộng – giao thông thuận lối
Kinh tế dồi dào Thị Trấn yên vui.

Quê ta đó Quảng Điền đang phát triển
Đem ấm no hạnh phúc tới cho dân
Em vẫn đợi anh về thăm một chuyến
Thắm nghĩa duyên tình đẹp nghĩa Quê Hương.

Xuân 2016 Nguyễn Bích

Nguyễn Bích – đời thứ 12

Read more

Nhớ Sịa

(Kính tặng bà con Đồng Hương Sịa)

Anh thấy em
Như nhìn thấy quê nhà
Ôi! xa cách biết bao giờ trở lại
Nhớ mái tranh nghèo yêu thương biết mấy
Nhớ vườn rau luống cải
Bãi sắn nương khoai
Bờ ngô ruộng mía

Âm thanh vọng từ bài thơ "NHỚ SỊA"
Kỷ niệm xưa khơi dậy đáy tâm hồn
Ngâm nữa đi em
Cho lòng thương thương nhớ nhớ
Nhớ lối cũ Xuân về bao cảm mến
Nhớ đường xưa Hạ đến đẹp tình em
Nhớ bến nước Thu qua thầm ước hẹn
Nhớ góc đa Đông tới mộng bình yên
Nhớ không em
Có lẽ em còn nhớ
Dưới trăng vàng bước ngược dốc cầu tre
Dòng sông "Sịa" mơ màng soi bóng nguyệt
Câu mái đẫy ai hò nghe tha thiết
Phút tạ từ xao xuyến buổi xa quê

Rồi họ ra đi
Nhưng cũng lắm người trở lại
Mà bọn chúng mình
Mãi lưu lạc tha phương
Những thổ ngữ chừ ai quên ai nhớ?
( -- otê -- đi mô rửa
Lấy dôn côi nớ ra răng
Tưa rọn mới mần ló đủ ăn khôn
Khó khăn có mụ ôn
Một Mai tra yếu sớm hôm nương nhờ.

Ngâm nữa đi em
Những gì em nhớ
Nhớ đặc sản quê nhà đậm đà hương vị:
Nhớ bánh tráng Chè Kê, bánh nậm bánh bèo,
Bánh canh bánh lọc, thịt heo bánh ướt,
Dấm nuốc tôm chua, ốc hến rạm cua,
Chột nưa trái vả, cháo môn tép giá,
Cá diếc cá đầy, cá ngạnh của mâm,
Bống thệ ong bầu, cá tràu bột tựa,
Mắm nêm bún lá, cốm ngọt bắp rang,
Kẹo gừng đường đen, kẹo cau đường cát,
Còn nhiều món khác
Ngon miệng rẻ tiền
Bởi mình xa xứ lâu năm
Có em chuyện trò nhắc nhở

Ngâm nữa đi em
Bởi em còn nhớ
Nhớ lũy tre làng rợp bóng lối đi quen
Nhớ đồng lúa mênh mông cò bay thẳng cánh
Nhớ trường cũ luôn kính Thầy mến Bạn
Nhớ tấm lòng "nhân hậu" xóm thôn hiền
Nhớ ngày mùa rộn rã
Nhớ tiếng hát câu ca
Nhớ điệu hò ru em giữa đêm trường vời vợi
À ... à ....ời!

(Chim xa rừng còn thương cây nhớ cội,
Người xa người tội lắm người ơi!)
Tay chờ mắt đợi phương trời
Quê hương ta đó ngàn đời yêu thương

Nhưng giờ đây đang trên đường vạn nẻo
Mà tưởng như mình đang ở "Phá Tam Giang"
Đang vô "Rú" thăm mộ phần Cha Mẹ

Sương khói hoang vu chiều Xuân ngấn lệ
Tuổi mới vào đời vội nhuốm ly tan
Ngâm nữa đi em
Bao nhiêu là thương nhớ
Nhớ thiên tai thảm họa
Nước lũ tràn về mái đổ nhà xiêu
Bão tố phong ba làng xóm tiêu điều
Nghe nức nở những buồn đau mất mát

Nhưng "Sịa" còn đó - ruột thịt còn đây
Một bàn tay góp vạn bàn tay
Khó khăn khắc phục

Về đi em
Quê nhà khởi sắc thắm ngày Xuân
Đất nở hoa màu đượm tháng năm
Gió nội hương đồng say đắm mộng
Thiết tha lưu luyến một lần thăm

Về đi em
VÂN-CĂN UẤT-MẬU vẫn trông chờ niềm nở
THỦ-LỄ KHUÔNG-PHÒ vẫn mong đợi vui mừng
THẠCH-BÌNH TRÁNG LỰC vẫn ngọt ngào rộng mở
AN-GIA HÀ-ĐỒ vẫn dào dạt yêu thương

Tình nghĩa Quê Hương
Ngàn đời gắn bó
Mừng Thị Trấn đang vươn mình phát triển
Người yêu ơi! Đẹp lắm người yêu ơi!
Hãy cùng nhau về thăm quê một chuyến
Bao năm rồi "NHỚ SỊA" quá đi thôi

Xuân Bính Tuất - 2006

Nguyễn Bích – đời thứ 12

Read more

Quê hương Sịa mến thương

Tui bắt đầu biết tui sinh ra một nơi mà sự sợ hãi luôn theo đuổi vào lúc 3 hay 4 tuổi gì đó, vào khoảng năm 1945. Hồi đó gia đình tản cư ở giữa một đồng lúa mênh mông, trong một xóm khoảng mươi nóc gia. Lớn lên tui mới biết đó là AN XUÂN, thật sự không xa SỊA lắm. Mùa nắng thì xóm rất êm đềm, nhưng đến gần Tết, mưa phùn rét mướt rất ảm đạm, chung quanh đầy chim én, đồ ăn luôn luôn là khoai sắn với tôm cá và thịt chim.

Cuộc sống của xóm cũng đơn giản và dễ thương nếu không có sự quấy nhiễu của hai phe. Lâu lâu mấy anh Việt Minh ghé qua, lẽ tất nhiên phải cúng hiến cho CÁCH MẠNG món này món nọ, thường là gạo và cá phơi khô. Đâu phải thế là xong đâu, vài ngày sau là Tây ghé ngang thăm và một vài người đàn ông bị bắt đi theo gánh đạn. Cha tui mà tui gọi là CẬU bị bắt lần đầu và được thả về sau vài tuần, rồi VM lại ghé thăm bắt ổng đi luôn, mạ tui cứ sợ ông bị thủ tiêu. Nhưng số vẫn chưa chết nên CẬU tui vẫn trở về. Nhà tui có một con chó vàng mà CẬU MẠ rất thương, che chở nó nhiều lần thoát nạn cuối cùng cũng bị CÁCH MẠNG bắt làm thịt. Nấu nướng xong bọn chúng còn mang cho CẬU tui một đọi thịt chó. Ông già đâu dám không nhận, tui lấy đũa chấm mút bị ông già trừng một cái. Bọn quỷ đi xong CẬU tui đem đọi thịt chó chôn sau hè. Sau đó gia đình trở về ở gần chợ Sia, thời gian này là thời gian gợi cho tui nhiều kỷ niệm nhất trong đời.

Một năm nào đó, Sịa bị tràn ngập người Huế, nhà nào cũng có người ở nhờ, người lớn cho biết vì thiếu đồ ăn, dân thành thị phải đi kiếm ăn ở nhà quê. Một chuyện rất lạ thời đó, theo người lớn nói là một giống cá tên là CÁ BẰNG CHẠNG xuất hiện rất nhiều, sân nhà nào cũng phơi cá, CẬU tui nói là trời cứu dân SỊA. Cá này không còn được nhắc tới sau này vì biến mất. Dân Huế cuối cùng cũng trở về thành thị. Hồi đó chắc tui cũng được 5 tuổi, cuộc sống của con nít êm đềm. Thỉnh thoảng mạ tui dẫn tui xuống RUỘNG BẾN hóng mát, hồi đó mạ tui đang mang bầu em tui là Lượng, tui lẩn thẩn hỏi răng bụng mạ càng ngày càng to rứa, bà già cười vì gió thổi vô bụng. Thường lúc trở về, mạ ghé vô thăm mệ ngoại, tui được hưởng mấy trái mãng cầu ngon nhất vì bà ngoại hái dú riêng sợ đám đông cháu nội giành mất.

Sịa có nhiều chuyện lạ như thỉnh thoảng TƠ bay đầy trời, người lớn gọi là tơ trời, tơ rớt xuống con nít bỏ vô miệng ăn tỉnh bơ. Hoặc là nước ở đâu đột ngột làm ngập đường và sân một cách thích thú. Nhà tui ở cạnh nhà mệ nội, mỗi lần đi chợ về mệ gọi “thằng CHÓ ĐÀ mô, ra mệ cho”. Mệ hay cho mấy con gà vịt nặn bằng bột lọc tô màu xanh đỏ tím vàng. Con nít thích mấy đồ chơi, vì trước là chơi sau là nướng ăn, vị khét lẹt nhưng cũng thấy ngon đáo để.

Rồi một bữa nọ một đoàn xe Tây về Sịa chạy ngang đường đập, gà vịt bị xe cán lốp bốp, Cậu tui xách về đến chục vịt chết. Từ đó tây làm đồn. Dân nhà quê bắt đầu biết thế nào là bánh bích qui, bánh mì tổ ong, thịt hộp, sữa đặc đóng hộp mà mạ tui gọi là THỰA, sau này ở Huế mạ tui gọi là THỬA. Thời gian đầu đường đập chưa chận nên tui còn đi học băng qua đồn, nhằm mắt chạy ù thật mau vì sợ mấy ông tây lắm. Sau này Tây không cho đi băng nữa, tui phải đi xuống ĐIẾM, vòng sau CỌI để tới trường, lúc đó lại sợ con ông Mạnh chặn đường.

Hồi đó dân Sịa bị một ách hai tròng. Bị nghi là VM là bị Tây nhốt, đánh đập, tra điện, mổ bụng…Không ngày nào là không nghe tù la hét thảm thiết. Ban đêm thì VM vào thăm nhà nào nghi là Việt gian, đem đi thủ tiêu. Những thành phần làm cho chính quyền, người biết chữ, nghề y tá đều liệt vào thành phần Việt gian. Tui có mấy ông cậu ruột bị giết. Tui lại có một bà dì ruột ra đứng giửa chợ chửi rủa bọn nào giết chồng bả, tức là ông dượng làm nghề thợ may của tui. VM lùa rất đông dân Sịa, trong đó có bà dì tui đi Nam Đông nhốt, đến khi gần chết vì sốt rét, được thả về. Đa số ráng bò về đến nhà để chết. Tui theo mạ tui xuống ĐIẾM, (chỗ này thường làm chỗ vui chơi cho dân làng khi có hội hè) thăm bác DẬT đang hấp hối trên giường bệnh. Tui không thể quên cảnh bác thở không nối, quằn quại trên giường. Oái oăm thay người con trai lớn tên là ĐỊCH lại là y sĩ riêng của HỒ CHÍ MINH! Sau này khi tui đi tù về, anh ĐỊCH có ghé thăm ông anh tui, ống hoạnh họe tui tại sao bọn tui theo NGỤY. Anh VĂN tui có nói rằng thằng Lạn ngu nay đã đền tội 6 năm cũng tạm đủ rồi thôi anh quên nó đi. Anh ĐỊCH vẫn chưa hài lòng cố bắt lỗi bắt phải, thì anh tui dằn giọng trả lời:”nếu bọn tui không xứng đáng là bà con của anh thì anh đừng ghé nữa. Vả lại, nếu CẬU bọn tui cũng bị bắt đi Nam Đông và cũng chết như bác DẬT ba anh thì bọn tui cũng đã theo cách mạng từ hồi đó rồi”. Ông anh VC bỏ về một nước. Mấy bữa sau chị Mân, em của anh ĐỊCH ghé ngang nói: tau biết thằng anh tau làm phiền hai đứa mi, nhưng chị đã trả thù cho hai cậu rồi. Chị Mân kể rằng chị mời ông anh Việt cộng và mấy ông bác sĩ bạn về nhà ăn cơm. Bửa cơm vỏn vẹn một tô cơm gạo hẩm, một dĩa rau luộc và một tô mắm nêm để chấm rau. Mấy ông bác sĩ nghẹn không ăn nối, chị mới nói Nói thiệt với các bác sĩ là hồi trước trong nhà món gì cũng có hết, từ ngày các anh vô đây bây giờ chỉ còn lại như thế này đây.

Người trong làng chết vì bị đày Nam Đông rất nhiều, trừ ra dì Thảo của tui, bà còn hưởng được không khí tự do của miền Nam và mất khoảng 10 năm sau khi mất nước. 1949 tui 7 tuổi, chiến tranh lan rộng, tù đày, bắt bớ, Việt Minh mời đi ban đêm rồi giết ngoài ruộng, đánh đồn Tây. Đánh đồn tây lần thứ 2, bọn VM tìm ông già tui không được, thoát nạn. Mấy ngày sau ổng dẫn tui lên Huế tìm chỗ ở trước, còn mạ, chị và em trai đi sau.

Thời niên thiếu của tui tại quê hương Sịa là vậy, loạn lạc thì nhiều, êm đềm rất ít. Sau này khi lớn lên thỉnh thoảng về thăm Sịa mới thấy quê hương Sịa thật thương. Đó là thời bình, khoảng năm 1955-1960. Các con đường từ Phổ Lại đến cầu Sịa, hoặc từ chợ Sịa xuống RUỘNG Bến, tre phủ hai bên thật hiền hòa làm nhớ lại cuốn tiểu thuyết CON TRÂU của Trần Tiêu đọc từ hồi nhỏ. Từ thuở niên thiếu, thấy cảnh giết chóc, trả thù của những người Việt Minh như tên HOÀI, VỆN, sự tàn bạo của Việt gian. Lớn lên vì không học hành đến nơi đến chốn, tui vào quân đội và trở thành Biệt động quân. Sịa đã có một thời, học vấn có, thành công có, văn nghệ có, gian tà có, nhưng rồi thời gian cũng qua, mọi việc không còn giống như ngày xưa, bây giờ chỉ còn lại kỷ niệm mà thôi. Nhưng dù sao cũng ấm lòng khi nghĩ rằng mình con của SỊA.

Nguyễn Lạn – đời thứ 12.

Read more

Tình Quê

(Kính tặng bà con đồng hương SỊA)

Ai đến Thừa Thiên!
Ai về Quảng Phước!
“Sịa” tôi đó giữa ba miền Đất Nước
Bút nào đây tả hết những yêu thương
Trong nắng sớm mưa chiều quên khó nhọc
Mở vòng tay ôm trọn nghĩa Quê Hương.

Chiều nay...
Mắt lệ sầu vương
Xuân về gợi nhớ thuở còn nằm nôi
Ngọt ngào mẹ hát à...ơi...
Câu hò xứ sở đượm lời thiết tha:
Trai nào đẹp bằng trai TRÁNG LỰC
Gái nào ngoan bằng gái THẠCH BÌNH
AN GIA, UẤT MẬU thắm tình
KHUÔNG PHÒ, THỦ LỄ có mình với ta.

Ngày tháng trôi qua
Lớn lên từ dòng sữa Mẹ
Mẹ thường nói: -“SỊA” mình tuy nhỏ bé
Nhờ tổ tiên xây dựng đã bao đời
Người nối gót nhiều công lao đáng kể
Kể sau này gắn bó mãi không thôi.

Làng trên xóm dưới yên vui
Bờ tre lơi lả ngọt bùi sắn khoai
Xuân về nở rộ cành Mai
Hạ đi Phượng thắm “ve” hoài thở than
Thu sang ngập xác lá vàng
Đông qua mưa gió phủ phàng mái xiêu.

Mùa bão lụt tiêu điều khốn khổ
Cảnh cơ hàn bát cháo cầm hơi
Rưng rưng chiếu đất màn trời
Thương ơi biết mấy cuộc đời xót xa

Thiên tai hết – hiền hòa mang trả lại
Vợ bên chồng đắp luống cải nương rau
Hương lúa mới thơm thơm mùa gặt mới
Gái trai làng hẹn ước chuyện trầu cau,

Thương nhau chớ phụ lòng nhau
Chớ xa rời “SỊA” mà sầu khôn nguôi

“SỊA” không có “Anh Đào” ven suối mộng
Không mơ màng mây tím quyện đồi thông
Nhưng vẫn đẹp tay cày nâng cuộc sống
Cao giọng hò vang vọng giữa mênh mông.

Nhìn về hướng Đông
Thấy phường Phước Lý
Hướng Tây lên đó
Gặp ấp Văn Căn
Niêm Phò đứng đợi hướng Nam
Hướng Bắc có Phá Tam Giang tuyệt vời.

Đi đâu vội vã ai ơi!
Ghé về thăm “SỊA” quê tôi một lần
Một lần để lại dấu chân
Trăm thương nghìn nhớ người dân quê nghèo.

Ai đến Thừa Thiên!
Ai về Quảng Phước!
Xin nhắn gởi tới thân bằng quyến thuộc
VẠN SỰ NHƯ Ý HẠNH PHÚC AN KHANG.

Chao ôi! Nhung nhớ chừ Xuân đến
Xuôi ngược đường đời vọng cố hương
Lạc xứ đơn côi thầm ước nguyện
“TÌNH QUÊ” gói trọn bước tha phương.

Nguyễn Bích – đời thứ 12

Read more

Đưa em về Sịa

(Kính tặng bà con đồng hương Sịa)

Xuân lại đến thêm lần vui họp mặt 
Nghe ấm lòng qua giọng nói “Đồng Hương”
Em gái hỡi sao em buồn muốn khóc?
Hát đi em :- khúc hát “Sịa Yêu Thương.

Rồi anh sẽ đưa em về quê Mẹ
Bằng con tàu chạy suốt một ngày đêm
Để em ngắm dãy Trường Sơn hùng vĩ
Biển xanh xanh con sóng vỗ êm đềm.

Em sẽ qua những Thị Thành làng mạc
Qua những rừng đưa ướt lá đêm trăng
Qua những cánh đồng mênh mông bát ngát
Thả mộng hồn theo sông núi vào Xuân.

Qua đèo Ải - Lăng Cô dừng ga Huế
Trắng nón bài thơ trắng nhịp Trường Tiền
Bến Vân Lâu vang câu hò “Mái Đẩy”
Điệu Nam Bình “Ngàn dặm” khóc Huyền Trân.

Ra quốc lộ tới An Hòa An Lổ
Rẽ lối về Cầu Kẽm xuống Vân Căn
Thấy Uất Mậu vơi lòng bao nỗi nhớ
“Sịa” đây rồi vui quá một lần thăm.

Thăm mồ mả lâu ngày không hương khói
Thăm bạn bè, thăm nội ngoại bà con
Thăm trường cũ lớp xưa ngày hai buổi
Tưởng niệm “Thầy” ghi nhớ mãi công ơn.

Thời thơ ấu chưa mờ trong ký ức
Nhớ sân đình Tráng Lực lúc nô đùa
Nhớ Thủ Lễ - Khuông Phò thi đấu vật
Nhớ Thạch Bình bóng đá gặp An Gia.

Chân nóng bỏng ngày kéo nhau vô “Rú”
Hái “Tầm bù” trên cồn cát chang chang
Nắng gay gắt lũy tre già lặng gió
Giữa trưa Hè tắm mát Phá Tam Giang.

“Sịa” cũng lắm thiên tai sâu khốn khổ
Vẫn tự hào với mảnh đất thân thương
Bãi sắn nương khoai bờ ngô ruộng lúa
Thôn xóm hài hòa gắn bó quê hương.

Mừng Xuân mới-“Sịa” An Khang Thịnh Vượng
Vạn sự lành Thị Trấn mãi bình yên
Về một chuyến quê nghèo thêm thắm đượm
Đẹp tình người - tươi đẹp cả lòng em.

Nguyễn Bích – đời thứ 12

Read more

Người giàu nhất thế giới

Đây truyện ngắn của Lê Duy Đoàn, viết vào tháng 2 năm 1991 ở Sài Gòn. Đọc để thấy một tinh thần khoáng đạt Nguyễn Văn qua góc nhìn của nhiều người khác.

Chiều muộn 30 Tết. Trời mù, mưa lất phất. Chỉ còn vài giờ nữa là đến giao thừa, chuyển từ năm Canh ngọ sang năm Tân mùi. Giờ này mà Nhà Thơ đang còn ngồi dưới hiên nhà đối diện nhà thờ Vườn Xoài trên đường Lê văn Sĩ, Quận Phú nhuận, Sài gòn. Cả một dảy phố nhà nhà đóng cửa hay để cửa khép hờ. Ai cũng lo chuẩn bị đón năm mới. Những xe chở rác và công nhân vệ sinh làm việc tất bật. Thói quen xã rác trở thành một thói quen xã hội rồi. Người đi đường thưa thớt mà vội vã. Đường vắng. Phố đã lên đèn.

Trên người Nhà Thơ, không biết là bao nhiêu lớp quần áo cái nào cũng rách bươm màu sắc tếc nic co lo. Một đống giẻ rách thì đúng hơn. Dưới chân Nhà Thơ là cái mũ dạ nhàu nát. Cây gậy tre quấn một sợi dây xích rổn rảng, để bên cạnh cái túi màu xám ô liu dơ bẩn không biết thứ gì bên trong mà cái túi căng kè. Một nải chuối cau cột sợi dây nylon đủ dài để nhà thơ đeo tòn ten nơi cổ cho tiện, khỏi cầm. Tất cả mọi thứ trên người ông đều nhàu nhĩ . Chỉ riêng đôi mắt sâu, nhỏ, hơi lé mà lại rất tinh anh dù nằm sau cặp kính tròn dày cộm.. Nhà Thơ cũng có tắm gội hằng ngày nhưng tóc phủ dài xuống gáy và bện xe lại như đầu tóc Rud Gullit, lại thêm trên người bao nhiêu lớp giẻ nên trông Ông bẩn bẩn giống như người cả tháng trời không tắm gội. Người ông nhỏ thó với khuôn mật nhăn nheo như quả trám khô tưởng chừng như không còn chỗ cho nếp nhăn chen chúc, nước da tai tái bủng beo,lại thêm áo quần trên người làm Nhà Thơ trông càng áo não. Thế mà vẻ mặt ông an nhiên tự tại, không đếm xỉa gì đến mọi việc xung quanh, mặc cho lủ trẻ nghịch ngợm chọc phá. Ông đang chìm vào quá khứ.

Nhà thơ ra khỏi nhà của Ông đạo diễn họ Lê ở xóm Gà, trong hẻm 482 đường Lê quang Định, Bình Thạnh từ sáng sớm. Ông mới đến trú ngụ ở đây sau cuộc rượu lu bù mà không có tiền để trả ở quán rượu Thọ Nguyên,  bị chủ quán mắng mỏ và làm khó dễ, ông đạo diễn họ Lê trả tiền nợ và mời Ông về nhà mình ở cho đến nay. Ở nhà thì Ông chỉ mặc một cái áo sơ mi, quần xà lỏn nhưng ra đường thì Ông lấy cái bao đồ cũ quàng hết lên người.  Cái bao tải đồ của nhà thơ, ông đạo diễn dặn vợ con không được đụng tới, một phần tôn trọng riêng tư của nhà thơ, một phần sợ nhà thơ buồn mà bỏ đi. Dường như nếu ra đường mà không có trang bị tận răng như thế thì không ra dáng hảo hán một tí nào ?!

Nhà thơ đi bộ xuống chợ bà Chiểu ngồi bệt bên vệ đường dựa lưng vào gốc cây phượng, nhai ổ mì và ngó mông lung dòng người ta vội vã di chuyển trên đường và mua bán tấp nập hai bên đường ngày cuối năm. Chẳng ai để ý một người điên nhưng người điên lại để ý quan sát mọi người. Dọc đường Lê quang Định, phía trước chợ Bà Chiểu, xe gắn máy dừng đậu bên lề đường ngã giá mua bán hoa mai và các loại hoa cúng. Những quầy bán dưa, quay lại bằng cót tre còn dưa nhiều lắm. Những người bán ngũ quả ” cầu mãn dừa đủ xài” có nhiều khách bu đen bu đỏ.

Nhà thơ ăn hết ổ bánh mì, nhìn quanh một hồi cũng chán, đi tới chỗ anh xích lô quen. “ Đi thôi, đại ca”. Anh xích lô thường chở người khách đặc biệt này nên biết lối đối thoại rất dị kỳ của ông với lối xưng hô rất ư là phiêu bồng cà rỡn. Anh hỏi lại một cách rất là phường tuồng:” Bệ hạ đi mô?” Ngồi lên xe nhà thơ nhớ nương tử. “ Tới nhà mẫu thân tao”. Đã nhiều lần chở nhà thơ đến nhà của nương tử nên anh xích lô cứ thế mà đạp qua đường Hoàng Diệu. “ Đại ca biết là tao qua nhà mẫu thân làm chi không?” Không đợi anh xích lô trả lời, nhà thơ nói tiếp” Để tao chọi hai cục đá ni vô cửa cổng, hẹn với mẫu thân sáng mai mồng một Tết, tới xông đất, xông nhà lấy hên cho mẫu thân”.

Anh xích lô đang lo trong lòng không biết ăn nói làm sao nếu bệ hạ điên này nói như chơi mà làm thiệt, lỡ công an vịn ngày cuối năm thì mệt lắm. Anh đang phân vân thì nhà thơ đột nhiên đổi ý ” Thôi mày ơi, tao nói chơi chứ ngày mai tao mới tới nhà mẫu thân để xông đất. Tao xông đất mà không báo trước thì chắc là nương tử thích hơn.”  “ Thế bây giờ bệ hạ đi đâu? “ “Thôi mày đi với tao lên hội”.

Hội là Hội văn nghệ thành phố, 81 Trần quốc Thảo, nơi tụ hội những văn nghệ sĩ thứ thiệt cũng có mà kẻ ăn theo tiếng văn nghệ cũng nhiều. Tới đây, anh đã từng được ông cho ăn nhậu bù khú đã đời cóc tía lắm phen.

Xe xích lô chạy thẳng vô sân hội như mọi khi nhưng quán vắng ngắt, bàn ghế được dọn dẹp trống huơ trống hoắc. “ Dẹp rồi à? Thôi ra chỗ mô có bán bia thì đại ca cứ tấp vô”.

Bên ngoài khuôn viên hội, trên lề đường còn có một ngưới đàn bà trung niên bán muộn. Khi thấy nhà thơ bước vô, người đàn bà cung kính cúi chào ” Thưa thầy.” Bà đon đả kéo ghế mời. “ Ờ mô mà thưa thầy hay rứa hè?” “Dạ, hồi trước con học văn khoa trường Đại học Vạn Hạnh đó thầy.” Đối với nhà thơ, hồi ức về thời gian dạy ở Đại học Vạn hạnh mơ hồ như rác duềnh lên trôi xuôi theo dòng nước, còn đối với anh xích lô khi thấy người đàn bà lễ phép giữ lễ thầy trò chào con người với đống giẻ trên người thế kia thì nhìn nhà thơ với con mắt vừa ngưỡng mộ vừa ái ngại.

Vẫn ngồi trên xích lô, vách chân chữ ngũ, mày chai tao chai, nhà thơ nhai đậu phọng uống bia với anh xích lô. Dù người đàn bà bán quán xép không chịu lấy tiền nhưng nhà thơ vẫn móc tiền trả và nói” Trẫm không muốn nợ và không muốn mắc nợ.” Nói nợ là nợ tiền và mắc nợ là mắc nợ tình. Nhà thơ phân biệt chữ nghĩa hay thật.

“Thôi mày về đi lo ba bữa Tết, sang năm gặp lại”. Nhà thơ nói với anh xích lô sau khi dúi cho anh một nắm tiền chẳng biết là bao nhiêu. Chân nam đá chân xiêu, nhà thơ đi bộ lên cầu Lê văn Sĩ. Tay chống gậy với sợi xích kêu loảng xoảng theo bước chân đi. Hai sợi xích ngày thường nhà thơ dẫn hai con chó, bây giờ chỉ còn sợi xích, không biết hai con chó đi đâu rồi. Nải chuối quàng trên cổ, cái bị trên vai trông nhà thơ giống Bố Đãi hòa thượng quá!

Ngồi dưới hiên nhà bên kia đường đối diện cổng trường Đại học Sư phạm đầu cầu Lê văn Sĩ, trước đây là cơ ngơi của trường Đại học Vạn Hạnh, nhà thơ vừa đưa tay chỉ vô trường vừa lầm bầm chưởi rủa. Những việc làm bất thường của nhà thơ đôi khi làm ông rước họa vào thân. Bị người bán hàng phụ tùng xe đạp đánh đá sưng mặt sưng mày vì lấy cái ghi-đông chơi trò lái xe, bị đám pê-đê đánh chảy máu đầu vì vào đám tang múa may quay cuồng và nhảy nhót với chúng. Có khi bị công an dẫn vô đồn vì nhảy điệu đười ươi thượng ngàn, huơ gậy điều khiển xe cộ lưu thông trên đường phố. Khi vô đồn công an hay vô bịnh viện, người ta hỏi thân nhân là ai, khi nào nhà thơ cũng nói số điện thoại và số nhà của nương tử mẫu thân. Báo hại nương tử mẫu thân hốt hoảng một phen hộc tốc tới nơi lo chăm sóc cho nhà thơ tội nghiệp.

* * *

Hiên nhà trước nhà thờ Vườn xoài, đường Lê văn Sĩ.

Ông đang chìm vào quá khứ. Những ngày cuối năm đối với ông giống như những ngày cuối đời. Những chuyện không theo thứ tự thời gian, trở lại như phim mà phần hồi tưởng lại sắc nét một nỗi sầu nhân gian và nhân thế.

Ông nhớ lại những tháng ngày sương khói xa xưa. Ông sờ lên vết sẹo trên trán và mơ hồ đâu đây tiếng cãi vả của cha mẹ rồi người cha hầm hầm giận dữ ném ông trúng cây đinh thủng trán. Nhớ tuổi thơ ông ở Duy Xuyên xứ Quảng Nam. Nhớ vô vàn những ngày lang thang chăn dê trên vùng thung lũng đồi núi Trung Phước, nuôi dê để rong chơi với đàn dê thôi chứ không bán, không làm thịt .Thương những con dê, ông đặt cho mỗi con một cái tên. Nhớ những lạch nguồn, truông trảng. Nhớ rừng sim tím ngát. Nhớ vô cùng người vợ đẹp và hiền hậu mà qua đời sớm cùng đứa bé sơ sinh. Nhớ những bát sữa dê đem chưng lên cho vợ uống mỗi buổi sáng. Tất cả đều trôi vào hư ảo, hư vô…

Những đứa bé vây quanh chòng ghẹo nhà thơ đã tản mác hết rồi. Chỉ còn nhà thơ ngồi cô đơn dưới hiên nhà. Một người đàn ông dáng tầm thước trong hẻm đi ra, tìm mua một bao thuốc lá. Quanh xóm đó ai cũng biết cũng quen Ông giáo gàn. Trước đây, ông dạy các lớp Đệ nhất cấp trường Việt Anh ở Huế từ năm 1951 lận, sau này trường đổi tên thành trường Trung học Đệ nhất cấp Nguyễn tri Phương. Đi ngang trước mặt nhà thơ, ông dừng lại một chút, nhìn và suy nghĩ một chút rồi ông đến bên vỗ nhẹ trên vai nhà thơ. “Này, nhà thơ, vô nhà tui uống rượu không ?” Nhà thơ như sực tỉnh: “ Đi mô?” “ Vô đây chút thôi, trong này”. “ Đi thì đi”.

Ông giáo gàn là người tốt bụng, cục tính và có thói gia trưởng. Ông ưa, ông làm đố vợ con hé răng bàn vô một tiếng. Thấy ông giáo gàn chiều tối 30 tết rồi mà còn dẫn về một ông nhà thơ với đống giẽ rách trên người, vợ ông là một bà giáo, con ông đã gần tốt nghiệp đại học cũng đành rút lên trên lầu chuẩn bị bàn thờ và bàn phẩm vật cúng giao thừa, để phòng khách dưới tầng trệt cho ông với nhà thơ muốn làm chi thì làm. Những tưởng ngồi chơi một chút rồi về,ai ngờ hai người ngồi chơi tới sáng.

Ông giáo gàn đem ra một bộ pyjama đặt trước mặt nhà thơ: “ Đi tắm đi rồi ra đây nhậu”. Nhà thơ giẩy nẩy: “ Không, không tắm”. Ông giáo kéo nhà thơ vào nhà tắm, lấy vòi sen xịt nước cho ướt áo quần, nhà thơ mới chịu cởi nùi giẻ rách ra tắm.

Mặc bộ đồ ngủ còn thơm mùi long não, xịt chút eau de cologne, nhà thơ thấy dễ chịu vô cùng. Trong khi nhà thơ tắm táp, ông giáo gàn đã bày ra trên bàn

ăn không biết cơ man nào là thức ăn và rượu ngoại. Chủ nhân là người hiếu khách thái quá. “ Rồi, muốn ăn chi cứ ăn, muốn uống chi cứ uống, cứ tha hồ.” Ông giáo gàn mang hầu như tất cả thức ăn để dành trong tủ lạnh dùng dần mấy ngày tết ra đãi khách.

Câu chuyện giữa nhà thơ lang bạt với ông giáo gàn không đầu không đuôi.

“ Này nhà thơ, răng mà giờ ni còn lang thang ngoài đường như rứa?”

“ Rong chơi mút mùa, càn khôn túy lúy. Đó là Đạo của tui. Nói thật tình, ở nhờ nhà người ta, ba bữa Tết, đuổi mình đi thì người ta không nỡ, mình ở nhà vô ra ba bữa Tết cũng không tiện. Thôi ra ngoài đường chơi với cóc nhái ểnh ương”.

….. “ Ngoài quê còn ai không ?”

“ Giật mình lúc chợt nghĩ ra

Rằng toàn thân thuộc đã qua đời rồi!”

“ Nghe nhà thơ nhiều mẫu thân nương tử lắm, mà họ mô rồi?”

“ Thần tiên nhan sắc đẻ ra mẫu thân nương tử, nương tử mẫu thân đẻ ra thằng tui, thằng tui đẻ ra hết thơ rồi thẩn, thơ thẩn đẻ ra cóc nhái ểnh ương, châu chấu chuồn chuồn, châu chấu chuồn chuồn lại đẻ ra cái liên tồn, lá hoa cồn, tồn lưu, cồn lau cỏ lách. Cái liên tồn lại đẻ ra thần tiên nhan sắc, cuộc tồn sinh tồn diệt mới tồn lưu. Ra sông nằm ngũ rập rình, Mẫu thân Phùng Khánh đẻ mình ra sao ? Mẫu thân nương tử mô cũng giành nhau đẻ mình ra, Phùng Khánh, Kim Cương, Marilyn, Bardot ai cũng là nương tử, ai cũng là mẫu thân, rứa mới lạ chứ.”

“ Mấy quyển sách nhà thơ viết trước đây thấy cũng hay đó chơ ?”

“ Thôi, đại ca ơi, ‘sách vở ích gì cho buổi ấy, Áo xiêm nghĩ lại thẹn thân già, Xuân về ngày loạn còn lơ láo, Người gặp khi cùng cũng ngất ngơ..’  … Phong ba cuộc đời cứ dồn dập, càng ngày càng nhố nhế thêm ra, tủn mủn đầu độc thêm ra, thì ưu tư khắc khoải trở thành chuyện tầm phào, siêu thị, siêu tưởng, siêu triết, trở thành chuyện đĩ điếm. Văn chương, văn nghệ trở thành chuyện bán cá ngoài chợ. Nợ tang bồng vay trả trả vay trở thành chuyện phỉnh phờ con nít. Lưu thủ đan tâm chiếu hản thanh ư? Lưu thủ đan tâm trở thành chuyện tán gái đâm toang. Chiếu hản thanh trở thành chiếu chăn mài cọ lầu xanh meo mốc…”

“ Hạnh phúc nhất là lúc mô?”

“ Trước năm 75, hồi đó tui ở chung phòng với thằng Thiên Thư trên lầu bốn trường Đại học Vạn Hạnh, hắn là thầy tu, mặc áo nâu sồng mà có con bồ Như Ngọc ở mô trên Đà lạt về thăm hắn, cô ấy dễ thương ghê. Sướng nhất là khi cô vào nhà tắm, tui đi theo, tui nói với cô. Cho coi một chút thôi cô ngồi xuống đây tưới cỏ cây đi, tui nằm coi. Mát mẻ con mắt vậy mà, mai mốt cỏ trên mồ cũng mát theo. Rứa mà cô thương tui, ngồi xuống mưa nguồn rớt hột trên sàn trong khi tui nằm trong bóng tối nhai gạo lứt muối mè nhìn mưa. Đại ca nghĩ coi, ai hạnh phúc hơn tui. Tui cũng từng ngỏ lời với mấy nương tử mẫu thân của tui là mai sau tôi có xuống suối vàng vẫn mong rằng các vị…sẽ ban ân huệ mưa móc sum suê, trên nấm mồ mọc cỏ, những giọt sương trần gian sẽ dỏ hằng ngày xuống đáy huyệt cô đơn của tui. Tui cũng từng nói với nương tử, Kim Cương nương tử ơi, nếu tại hạ một mai chết đi, nàng hãy mưa lên nấm mồ tại hạ .”

“ Mấy lâu ni có chi vui ?”

“ Không buồn thì cũng không vui,

Buồn vui một nửa thì tui không màng.”

“ Bình sinh nhà thơ yêu thương ai nhất?

” Nhất vợ nhì Trời, nên yêu thương bà Ninh nhất. Thứ nhì là thương con. Yêu thứ ba là những cô gái giang hồ. Giang hồ của tui là phường đĩ điếm hay không đĩ điếm cũng được miễn là những cô những bà có máu phiêu lãng phiêu bồng là được. Quẳng gánh lo đi và rong chơi dzui dzẻ. Rồi tui yêu vu vơ những đàn bà tình cờ gặp gỡ ngoài đường – thường là những phụ nữ da dẻ đen thui, ngồi im lìm bên vệ đường bán mua cái gì chẳng rõ.”

“ Nhà thơ làm thơ dễ như lấy đồ trong túi. Thơ để làm gì và bàn luận thế nào về thơ?”

“Thơ để cho, thơ để tặng, để chơi chứ không để làm chi cả. Thơ là cái gì không thể bàn tới, không thể dịch, diễn gì được. Người ta có thể diễn tả một  trận mưa rào bằng lời thơ. Thì có lẽ muốn diễn tả một bài thơ, người ta chỉ có thể phát động một trận mưa rào, hoặc một cơn gió thu. Mà muốn thực hiện việc đó, thì ngoài việc làm thơ ra, con người không còn phép gì khác. Thế có nghĩa là: muốn bàn tới thơ, diễn dịch thơ, người ta chỉ có thể làm một bài thơ khác. Người xưa am hiểu sự đó, nên họ chỉ vịnh thơ, chứ không bao giờ điên rồ gì mà luận bàn về thơ. Người đời nay trái lại, họ buộc phải luận thơ cho có mạch lạc luận lý. Cái chỗ ngu si đó là điều bất khả tư nghị vậy.”

……….

Cứ như vậy, hỏi đáp, đáp hỏi giữa nhà thơ và ông giáo gàn cho tới khuya. Bà giáo thỉnh thoảng đi xuống lầu gây ra vài tiếng động ý chừng nhắc khéo ông giáo gàn tiễn khách sợ rằng ông khách điên khùng này ở lại đạp đất thì xui xẻo cả năm. Ông giáo gàn chẳng để ý chi đến thời gian trôi qua và bà giáo chuẩn bị cúng giao thừa.

Chai rượu Henessy XO ông giáo gàn để dành trong tủ rượu từ trước 75, hai người chén chú chén anh cho đến giọt cuối cùng thì nhà thơ cũng oắt cần câu túy lúy. Ông giáo gàn còn đủ sức dìu nhà thơ đến nằm dài trên ghế nệm salon, còn ông giáo nằm trên ghế bố. Cả hai làm một giấc quên đời. Bà giáo cúng giao thừa xong, xuống coi lại cửa nẻo, lắc đầu ngán ngẩm cái ông chồng ngang không chịu được.

5 giờ sáng mồng một Tết.

Chuông nhà thờ Vườn xoài đổ từng hồi báo lễ sớm. Ông giáo gàn thức dậy pha trà và chế cà phê, dọn ra bàn một cái bánh chưng cắt sẵn. Chuẩn bị xong, ông đánh thức nhà thơ dậy. Rửa mặt đánh răng qua loa, nhà thơ ra bàn ăn ngồi uống nước trà và cà phê ăn sáng mà không nói với nhau một lời nào. Trong cái tĩnh lặng thiêng liêng của sáng mồng một Tết, nhà thơ cảm nhận sâu sắc cái tình lạ lùng của ông giáo trong cuộc tao phùng lạ lùng đêm 30 Tết vừa qua, cuộc tao phùng ngẫu nhiên, ngẫu nhỉ mà chén tương phùng mát dạ dường bao.

Nhà thơ tiện tay xé một tờ lịch đầu năm, lấy bút hí hoáy viết mấy câu lục bát chữ to và nghiêng ngã.

Uống xong ly rượu cuối cùng,

Bổng nhiên chợt nhớ đã từng đầu tiên,

Uống như uống nước ngọc tuyền,

Từ đầu tiên mộng tới phiền muộn sau,

Uống xong ly rượu cùng nhau,

Hẹn rằng mai sẽ quên nhau muôn đời.

* * *

Bước ra trước cổng, cầm tay ông giáo gàn, nhà thơ trịnh trọng nói với ông giáo :

“ Nói thật với Đại ca, Đại ca đừng giận. Tui không biết Đại ca là ai nhưng tui biết chắc chắn một điều:

Đại ca là người giàu nhất thế giới”.

Lê Duy Đoàn

___________

Lời thêm:

Truyện ni là hư cấu nhưng dựa trên những tình tiết thật. Mong những ngưới có liên quan lượng thứ nếu có điều khiếm khuyết ngoài ý muốn của tác giả. Lời cuối khi chia tay Thầy Nguyễn Văn là nguyên văn lời nói của Bùi Giáng.

Nhân vật thật:

1. Nhà thơ : Bùi Giáng.

2. Ông giáo gàn: Thầy Văn, dạy Việt văn và Pháp văn trường Trung học Việt Anh, sau này là trường Trung học Đệ nhất cấp Nguyễn tri Phương. Thầy dạy từ những năm đầu thập niên 50.

3. Bà giáo: Cô Bạch Hạc, dạy trường Nữ Trung học Đồng Khánh.

4. Mẫu thân Phùng Khánh: cách gọi của Bùi Giáng tôn xưng Ni sư Trí Hải.

5. Nương tử, mẫu thân Kim Cương: cách gọi của Bùi Giáng tôn xưng Nghệ sĩ Kim Cương.

6. Đạo diễn họ Lê: Ông Lê Trác, hãng phim Giải phóng.

Read more