Skip to content Skip to main navigation Skip to footer

Quê hương Sịa mến thương

  • 25/08/2024

Tui bắt đầu biết tui sinh ra một nơi mà sự sợ hãi luôn theo đuổi vào lúc 3 hay 4 tuổi gì đó, vào khoảng năm 1945. Hồi đó gia đình tản cư ở giữa một đồng lúa mênh mông, trong một xóm khoảng mươi nóc gia. Lớn lên tui mới biết đó là AN XUÂN, thật sự không xa SỊA lắm. Mùa nắng thì xóm rất êm đềm, nhưng đến gần Tết, mưa phùn rét mướt rất ảm đạm, chung quanh đầy chim én, đồ ăn luôn luôn là khoai sắn với tôm cá và thịt chim.

Cuộc sống của xóm cũng đơn giản và dễ thương nếu không có sự quấy nhiễu của hai phe. Lâu lâu mấy anh Việt Minh ghé qua, lẽ tất nhiên phải cúng hiến cho CÁCH MẠNG món này món nọ, thường là gạo và cá phơi khô. Đâu phải thế là xong đâu, vài ngày sau là Tây ghé ngang thăm và một vài người đàn ông bị bắt đi theo gánh đạn. Cha tui mà tui gọi là CẬU bị bắt lần đầu và được thả về sau vài tuần, rồi VM lại ghé thăm bắt ổng đi luôn, mạ tui cứ sợ ông bị thủ tiêu. Nhưng số vẫn chưa chết nên CẬU tui vẫn trở về. Nhà tui có một con chó vàng mà CẬU MẠ rất thương, che chở nó nhiều lần thoát nạn cuối cùng cũng bị CÁCH MẠNG bắt làm thịt. Nấu nướng xong bọn chúng còn mang cho CẬU tui một đọi thịt chó. Ông già đâu dám không nhận, tui lấy đũa chấm mút bị ông già trừng một cái. Bọn quỷ đi xong CẬU tui đem đọi thịt chó chôn sau hè. Sau đó gia đình trở về ở gần chợ Sia, thời gian này là thời gian gợi cho tui nhiều kỷ niệm nhất trong đời.

Một năm nào đó, Sịa bị tràn ngập người Huế, nhà nào cũng có người ở nhờ, người lớn cho biết vì thiếu đồ ăn, dân thành thị phải đi kiếm ăn ở nhà quê. Một chuyện rất lạ thời đó, theo người lớn nói là một giống cá tên là CÁ BẰNG CHẠNG xuất hiện rất nhiều, sân nhà nào cũng phơi cá, CẬU tui nói là trời cứu dân SỊA. Cá này không còn được nhắc tới sau này vì biến mất. Dân Huế cuối cùng cũng trở về thành thị. Hồi đó chắc tui cũng được 5 tuổi, cuộc sống của con nít êm đềm. Thỉnh thoảng mạ tui dẫn tui xuống RUỘNG BẾN hóng mát, hồi đó mạ tui đang mang bầu em tui là Lượng, tui lẩn thẩn hỏi răng bụng mạ càng ngày càng to rứa, bà già cười vì gió thổi vô bụng. Thường lúc trở về, mạ ghé vô thăm mệ ngoại, tui được hưởng mấy trái mãng cầu ngon nhất vì bà ngoại hái dú riêng sợ đám đông cháu nội giành mất.

Sịa có nhiều chuyện lạ như thỉnh thoảng TƠ bay đầy trời, người lớn gọi là tơ trời, tơ rớt xuống con nít bỏ vô miệng ăn tỉnh bơ. Hoặc là nước ở đâu đột ngột làm ngập đường và sân một cách thích thú. Nhà tui ở cạnh nhà mệ nội, mỗi lần đi chợ về mệ gọi “thằng CHÓ ĐÀ mô, ra mệ cho”. Mệ hay cho mấy con gà vịt nặn bằng bột lọc tô màu xanh đỏ tím vàng. Con nít thích mấy đồ chơi, vì trước là chơi sau là nướng ăn, vị khét lẹt nhưng cũng thấy ngon đáo để.

Rồi một bữa nọ một đoàn xe Tây về Sịa chạy ngang đường đập, gà vịt bị xe cán lốp bốp, Cậu tui xách về đến chục vịt chết. Từ đó tây làm đồn. Dân nhà quê bắt đầu biết thế nào là bánh bích qui, bánh mì tổ ong, thịt hộp, sữa đặc đóng hộp mà mạ tui gọi là THỰA, sau này ở Huế mạ tui gọi là THỬA. Thời gian đầu đường đập chưa chận nên tui còn đi học băng qua đồn, nhằm mắt chạy ù thật mau vì sợ mấy ông tây lắm. Sau này Tây không cho đi băng nữa, tui phải đi xuống ĐIẾM, vòng sau CỌI để tới trường, lúc đó lại sợ con ông Mạnh chặn đường.

Hồi đó dân Sịa bị một ách hai tròng. Bị nghi là VM là bị Tây nhốt, đánh đập, tra điện, mổ bụng…Không ngày nào là không nghe tù la hét thảm thiết. Ban đêm thì VM vào thăm nhà nào nghi là Việt gian, đem đi thủ tiêu. Những thành phần làm cho chính quyền, người biết chữ, nghề y tá đều liệt vào thành phần Việt gian. Tui có mấy ông cậu ruột bị giết. Tui lại có một bà dì ruột ra đứng giửa chợ chửi rủa bọn nào giết chồng bả, tức là ông dượng làm nghề thợ may của tui. VM lùa rất đông dân Sịa, trong đó có bà dì tui đi Nam Đông nhốt, đến khi gần chết vì sốt rét, được thả về. Đa số ráng bò về đến nhà để chết. Tui theo mạ tui xuống ĐIẾM, (chỗ này thường làm chỗ vui chơi cho dân làng khi có hội hè) thăm bác DẬT đang hấp hối trên giường bệnh. Tui không thể quên cảnh bác thở không nối, quằn quại trên giường. Oái oăm thay người con trai lớn tên là ĐỊCH lại là y sĩ riêng của HỒ CHÍ MINH! Sau này khi tui đi tù về, anh ĐỊCH có ghé thăm ông anh tui, ống hoạnh họe tui tại sao bọn tui theo NGỤY. Anh VĂN tui có nói rằng thằng Lạn ngu nay đã đền tội 6 năm cũng tạm đủ rồi thôi anh quên nó đi. Anh ĐỊCH vẫn chưa hài lòng cố bắt lỗi bắt phải, thì anh tui dằn giọng trả lời:”nếu bọn tui không xứng đáng là bà con của anh thì anh đừng ghé nữa. Vả lại, nếu CẬU bọn tui cũng bị bắt đi Nam Đông và cũng chết như bác DẬT ba anh thì bọn tui cũng đã theo cách mạng từ hồi đó rồi”. Ông anh VC bỏ về một nước. Mấy bữa sau chị Mân, em của anh ĐỊCH ghé ngang nói: tau biết thằng anh tau làm phiền hai đứa mi, nhưng chị đã trả thù cho hai cậu rồi. Chị Mân kể rằng chị mời ông anh Việt cộng và mấy ông bác sĩ bạn về nhà ăn cơm. Bửa cơm vỏn vẹn một tô cơm gạo hẩm, một dĩa rau luộc và một tô mắm nêm để chấm rau. Mấy ông bác sĩ nghẹn không ăn nối, chị mới nói Nói thiệt với các bác sĩ là hồi trước trong nhà món gì cũng có hết, từ ngày các anh vô đây bây giờ chỉ còn lại như thế này đây.

Người trong làng chết vì bị đày Nam Đông rất nhiều, trừ ra dì Thảo của tui, bà còn hưởng được không khí tự do của miền Nam và mất khoảng 10 năm sau khi mất nước. 1949 tui 7 tuổi, chiến tranh lan rộng, tù đày, bắt bớ, Việt Minh mời đi ban đêm rồi giết ngoài ruộng, đánh đồn Tây. Đánh đồn tây lần thứ 2, bọn VM tìm ông già tui không được, thoát nạn. Mấy ngày sau ổng dẫn tui lên Huế tìm chỗ ở trước, còn mạ, chị và em trai đi sau.

Thời niên thiếu của tui tại quê hương Sịa là vậy, loạn lạc thì nhiều, êm đềm rất ít. Sau này khi lớn lên thỉnh thoảng về thăm Sịa mới thấy quê hương Sịa thật thương. Đó là thời bình, khoảng năm 1955-1960. Các con đường từ Phổ Lại đến cầu Sịa, hoặc từ chợ Sịa xuống RUỘNG Bến, tre phủ hai bên thật hiền hòa làm nhớ lại cuốn tiểu thuyết CON TRÂU của Trần Tiêu đọc từ hồi nhỏ. Từ thuở niên thiếu, thấy cảnh giết chóc, trả thù của những người Việt Minh như tên HOÀI, VỆN, sự tàn bạo của Việt gian. Lớn lên vì không học hành đến nơi đến chốn, tui vào quân đội và trở thành Biệt động quân. Sịa đã có một thời, học vấn có, thành công có, văn nghệ có, gian tà có, nhưng rồi thời gian cũng qua, mọi việc không còn giống như ngày xưa, bây giờ chỉ còn lại kỷ niệm mà thôi. Nhưng dù sao cũng ấm lòng khi nghĩ rằng mình con của SỊA.

Nguyễn Lạn – đời thứ 12.

Chưa có bình luận

Bình luận