Skip to content Skip to main navigation Skip to footer

Quê hương Sịa mến thương

Tui bắt đầu biết tui sinh ra một nơi mà sự sợ hãi luôn theo đuổi vào lúc 3 hay 4 tuổi gì đó, vào khoảng năm 1945. Hồi đó gia đình tản cư ở giữa một đồng lúa mênh mông, trong một xóm khoảng mươi nóc gia. Lớn lên tui mới biết đó là AN XUÂN, thật sự không xa SỊA lắm. Mùa nắng thì xóm rất êm đềm, nhưng đến gần Tết, mưa phùn rét mướt rất ảm đạm, chung quanh đầy chim én, đồ ăn luôn luôn là khoai sắn với tôm cá và thịt chim.

Cuộc sống của xóm cũng đơn giản và dễ thương nếu không có sự quấy nhiễu của hai phe. Lâu lâu mấy anh Việt Minh ghé qua, lẽ tất nhiên phải cúng hiến cho CÁCH MẠNG món này món nọ, thường là gạo và cá phơi khô. Đâu phải thế là xong đâu, vài ngày sau là Tây ghé ngang thăm và một vài người đàn ông bị bắt đi theo gánh đạn. Cha tui mà tui gọi là CẬU bị bắt lần đầu và được thả về sau vài tuần, rồi VM lại ghé thăm bắt ổng đi luôn, mạ tui cứ sợ ông bị thủ tiêu. Nhưng số vẫn chưa chết nên CẬU tui vẫn trở về. Nhà tui có một con chó vàng mà CẬU MẠ rất thương, che chở nó nhiều lần thoát nạn cuối cùng cũng bị CÁCH MẠNG bắt làm thịt. Nấu nướng xong bọn chúng còn mang cho CẬU tui một đọi thịt chó. Ông già đâu dám không nhận, tui lấy đũa chấm mút bị ông già trừng một cái. Bọn quỷ đi xong CẬU tui đem đọi thịt chó chôn sau hè. Sau đó gia đình trở về ở gần chợ Sia, thời gian này là thời gian gợi cho tui nhiều kỷ niệm nhất trong đời.

Một năm nào đó, Sịa bị tràn ngập người Huế, nhà nào cũng có người ở nhờ, người lớn cho biết vì thiếu đồ ăn, dân thành thị phải đi kiếm ăn ở nhà quê. Một chuyện rất lạ thời đó, theo người lớn nói là một giống cá tên là CÁ BẰNG CHẠNG xuất hiện rất nhiều, sân nhà nào cũng phơi cá, CẬU tui nói là trời cứu dân SỊA. Cá này không còn được nhắc tới sau này vì biến mất. Dân Huế cuối cùng cũng trở về thành thị. Hồi đó chắc tui cũng được 5 tuổi, cuộc sống của con nít êm đềm. Thỉnh thoảng mạ tui dẫn tui xuống RUỘNG BẾN hóng mát, hồi đó mạ tui đang mang bầu em tui là Lượng, tui lẩn thẩn hỏi răng bụng mạ càng ngày càng to rứa, bà già cười vì gió thổi vô bụng. Thường lúc trở về, mạ ghé vô thăm mệ ngoại, tui được hưởng mấy trái mãng cầu ngon nhất vì bà ngoại hái dú riêng sợ đám đông cháu nội giành mất.

Sịa có nhiều chuyện lạ như thỉnh thoảng TƠ bay đầy trời, người lớn gọi là tơ trời, tơ rớt xuống con nít bỏ vô miệng ăn tỉnh bơ. Hoặc là nước ở đâu đột ngột làm ngập đường và sân một cách thích thú. Nhà tui ở cạnh nhà mệ nội, mỗi lần đi chợ về mệ gọi “thằng CHÓ ĐÀ mô, ra mệ cho”. Mệ hay cho mấy con gà vịt nặn bằng bột lọc tô màu xanh đỏ tím vàng. Con nít thích mấy đồ chơi, vì trước là chơi sau là nướng ăn, vị khét lẹt nhưng cũng thấy ngon đáo để.

Rồi một bữa nọ một đoàn xe Tây về Sịa chạy ngang đường đập, gà vịt bị xe cán lốp bốp, Cậu tui xách về đến chục vịt chết. Từ đó tây làm đồn. Dân nhà quê bắt đầu biết thế nào là bánh bích qui, bánh mì tổ ong, thịt hộp, sữa đặc đóng hộp mà mạ tui gọi là THỰA, sau này ở Huế mạ tui gọi là THỬA. Thời gian đầu đường đập chưa chận nên tui còn đi học băng qua đồn, nhằm mắt chạy ù thật mau vì sợ mấy ông tây lắm. Sau này Tây không cho đi băng nữa, tui phải đi xuống ĐIẾM, vòng sau CỌI để tới trường, lúc đó lại sợ con ông Mạnh chặn đường.

Hồi đó dân Sịa bị một ách hai tròng. Bị nghi là VM là bị Tây nhốt, đánh đập, tra điện, mổ bụng…Không ngày nào là không nghe tù la hét thảm thiết. Ban đêm thì VM vào thăm nhà nào nghi là Việt gian, đem đi thủ tiêu. Những thành phần làm cho chính quyền, người biết chữ, nghề y tá đều liệt vào thành phần Việt gian. Tui có mấy ông cậu ruột bị giết. Tui lại có một bà dì ruột ra đứng giửa chợ chửi rủa bọn nào giết chồng bả, tức là ông dượng làm nghề thợ may của tui. VM lùa rất đông dân Sịa, trong đó có bà dì tui đi Nam Đông nhốt, đến khi gần chết vì sốt rét, được thả về. Đa số ráng bò về đến nhà để chết. Tui theo mạ tui xuống ĐIẾM, (chỗ này thường làm chỗ vui chơi cho dân làng khi có hội hè) thăm bác DẬT đang hấp hối trên giường bệnh. Tui không thể quên cảnh bác thở không nối, quằn quại trên giường. Oái oăm thay người con trai lớn tên là ĐỊCH lại là y sĩ riêng của HỒ CHÍ MINH! Sau này khi tui đi tù về, anh ĐỊCH có ghé thăm ông anh tui, ống hoạnh họe tui tại sao bọn tui theo NGỤY. Anh VĂN tui có nói rằng thằng Lạn ngu nay đã đền tội 6 năm cũng tạm đủ rồi thôi anh quên nó đi. Anh ĐỊCH vẫn chưa hài lòng cố bắt lỗi bắt phải, thì anh tui dằn giọng trả lời:”nếu bọn tui không xứng đáng là bà con của anh thì anh đừng ghé nữa. Vả lại, nếu CẬU bọn tui cũng bị bắt đi Nam Đông và cũng chết như bác DẬT ba anh thì bọn tui cũng đã theo cách mạng từ hồi đó rồi”. Ông anh VC bỏ về một nước. Mấy bữa sau chị Mân, em của anh ĐỊCH ghé ngang nói: tau biết thằng anh tau làm phiền hai đứa mi, nhưng chị đã trả thù cho hai cậu rồi. Chị Mân kể rằng chị mời ông anh Việt cộng và mấy ông bác sĩ bạn về nhà ăn cơm. Bửa cơm vỏn vẹn một tô cơm gạo hẩm, một dĩa rau luộc và một tô mắm nêm để chấm rau. Mấy ông bác sĩ nghẹn không ăn nối, chị mới nói Nói thiệt với các bác sĩ là hồi trước trong nhà món gì cũng có hết, từ ngày các anh vô đây bây giờ chỉ còn lại như thế này đây.

Người trong làng chết vì bị đày Nam Đông rất nhiều, trừ ra dì Thảo của tui, bà còn hưởng được không khí tự do của miền Nam và mất khoảng 10 năm sau khi mất nước. 1949 tui 7 tuổi, chiến tranh lan rộng, tù đày, bắt bớ, Việt Minh mời đi ban đêm rồi giết ngoài ruộng, đánh đồn Tây. Đánh đồn tây lần thứ 2, bọn VM tìm ông già tui không được, thoát nạn. Mấy ngày sau ổng dẫn tui lên Huế tìm chỗ ở trước, còn mạ, chị và em trai đi sau.

Thời niên thiếu của tui tại quê hương Sịa là vậy, loạn lạc thì nhiều, êm đềm rất ít. Sau này khi lớn lên thỉnh thoảng về thăm Sịa mới thấy quê hương Sịa thật thương. Đó là thời bình, khoảng năm 1955-1960. Các con đường từ Phổ Lại đến cầu Sịa, hoặc từ chợ Sịa xuống RUỘNG Bến, tre phủ hai bên thật hiền hòa làm nhớ lại cuốn tiểu thuyết CON TRÂU của Trần Tiêu đọc từ hồi nhỏ. Từ thuở niên thiếu, thấy cảnh giết chóc, trả thù của những người Việt Minh như tên HOÀI, VỆN, sự tàn bạo của Việt gian. Lớn lên vì không học hành đến nơi đến chốn, tui vào quân đội và trở thành Biệt động quân. Sịa đã có một thời, học vấn có, thành công có, văn nghệ có, gian tà có, nhưng rồi thời gian cũng qua, mọi việc không còn giống như ngày xưa, bây giờ chỉ còn lại kỷ niệm mà thôi. Nhưng dù sao cũng ấm lòng khi nghĩ rằng mình con của SỊA.

Nguyễn Lạn – đời thứ 12.

Read more

Chiều Đại Hàn, nhớ thầy Nguyễn Văn

Đây là bài viết của người học trò cũ Tôn Thất Tuệ, viết về thầy của mình, xin trích từ đây

Trong chiều Đại Hàn nầy, tôi chứng nghiệm trực giác chỗ gặp nhau của triết lý và của nghệ thuật, sự yên ổn trở về, không có sự phân biệt danh thủ và dàn nhạc, không có phân biệt giữa cá nhân và chủng loại, không có sự phân biệt hữu hình và vô hình.

Chiều Đại Hàn nầy, tôi cũng nhận tin vị thầy cũ đã qua đời ngày 17.02.2019 hưởng thọ 92 tuổi. Giáo sư Nguyễn Văn đã dạy tôi 1952 lớp đệ thất Nguyễn Tri Phương, môn luân lý mỗi tuần một giờ.

Mãi cho đến gần đây, tôi mới nhờ Phan Chu Trinh mà biết rằng luân lý chỉ là những tập tục, đúng chỗ nầy không đúng chỗ kia, đúng lúc nầy sai lúc kia, chẳng khác Pascal nói sự thật là sai lầm hay ngược lại ở hai bên núi Pyrenées. Nhà cách mạng xứ Quảng lưu ý cần biết thêm triết lý cao xa ngoài những hình thức ấy để biết đạo lý.

Nhờ vậy tôi tự đính chính mà nói rằng thầy Nguyễn Văn đã dạy đạo lý, thầy dạy chúng tôi nghĩa vụ đối với nhân loại, thương mến muôn loài, thương mến thiên nhiên. Thầy còn dạy bổn phận với chính mình. Đừng để mình u muội, thân thể phải tráng kiệm, đừng bê tha, đừng tự tử. Các bậc Phật Thánh cũng làm chừng đó thôi.

Tôi biết thầy đánh cờ tướng rất cao. Nghe nói thầy thắng nhiều lần tại các hội chợ mở ở Thương Bạc hay trường Thượng Tứ. Thầy không phiền đối phương suy nghĩ rất lâu, nhưng khi bên kia đi xong thì thầy chơi cái bụp, đi con cờ của mình như ngày nay đánh với computer.

Thầy rất giỏi chữ Hán nhưng không bao giờ khoe đã đọc sách thánh hiền Khổng Lão Thích. Thầy không khệ nệ như lớp người tiếng Tây gọi là pédant, ra vẻ trí thức.

Thầy đã ra đi. Không chi vui, không có chi buồn; cho nên không cần phải cổ bồn như Trang Tử, không có chi phải khóc la. Thầy đã trở về với nhạc đề của vũ trụ. Người gốc Sịa, thế nào thầy cũng quen biết thi sĩ Trụ Vũ; Trụ Vũ thì “cửa hồn tôi khép lại không cho vũ trụ lòn vô”.

Nhưng vũ trụ không có cửa. Thầy như tiếng vĩ cầm của Beethoven đi vào vũ trụ hài hòa, đánh cờ với Schubert, bút thoại với Bạch Cư Dị …. để lại cho học trò những tuế toái này kia như ta là ai, chết và nhập niết bàn có khác nhau không.

Chiều nay, tôi sẽ vừa nghe Kang đàn Beethoven, vừa ăn cơm trắng với nước tương Đại Hàn. Trước khi dùng bữa, tôi sẽ mời thầy thưởng thức mùi thơm gạo mới, như hương lòng của chính tôi, và của những đứa học trò nhớ thương thầy.-

Tôn Thất Tuệ

Read more

Vĩnh biệt Bác Nguyễn Sum

 Đây là bài vết của anh Nguyễn Chính Thắng, đọc để biết được quá khứ đầy tự hào của Sịa xưa qua một người được cả một miền quê trân trọng.

Hồi nhỏ ở Sịa mấy anh em chúng tôi tuy không bà con gì với Cậu Sum nhưng đã luôn luôn gọi cậu Sum bằng Cậu một cách tôn kính và chúng tôi giữ thói quen xưng hô như thế mãi mãi ….!

Khi nền đệ nhất Cộng hoà được thành lập thì cũng là lúc cậu Sum về làm chủ tịch xã Quảng- Phước. 

Cậu có dáng dong dỏng cao, da trắng , khuôn mặt giống nét ” Tây” và đối với tôi Cậu  rất đẹp trai!  Cậu ăn nói lưu loát,lên diễn đàn không bao giờ cần giấy tờ rườm rà như cán bộ cọng sản bây giờ ! Đặc biệt Cậu rất có óc khôi hài …! 

Thế hệ học sinh chúng tôi ; sinh vào khoảng  thập niên 45-55 may mắn lớn lên và được giáo dục trong nền đệ nhất, đệ nhị Cộng hoà và có lẽ đó là nền giáo dục nhân bản nhất của Việt Nam từ trước đến nay! Công đầu đương nhiên thuộc về quí vị lãnh đạo quốc gia; điều đó thuộc về lịch sử!  Riêng tại Sịa và xã Quảng-Phước, chúng ta không thể không nhớ đến những  công trình lớn lao mà Cậu Nguyễn Sum đã tạo dựng.

Trường Trung học Bán công Quảng- Phước

Chính cậu là một trong những vị đầu tiên  vận động để xây dựng trường Trung học Bán công Quảng- Phước! Ngôi trường đã đào tạo nên rất nhiều nhân sự mẫn cán xuất sắc cả quân sự lẫn hành chánh cho Việt Nam Cộng Hòa.

Trường Trung học Bán công Quảng- Phước vẽ bởi kiến trúc sư Hoàng Hữu Đạt

Là người Sịa, ai đi xa cũng nhớ về quê nhà. Mà cái thời quê Sịa đẹp nhất, thanh bình nhất, lại là thời cậu Sum làm xã trưởng.  Đương nhiên, ai cũng biết không phải chỉ có Cậu Sum tạo được thanh bình cho Sịa. Nhưng  trong không khí thanh bình ấy, với vai trò một người lãnh đạo địa phương, Cậu Sum đã tạo cho Sịa một hình hài mới, duyên dáng mới  và đẹp đẽ biết nhường nào …! Có lẽ câu ca tụng “Nhất Huế nhì Sịa! ” đúng nhất vào thời điểm này …! 

Chợ Sịa

Thứ hai là chợ Sịa. Chợ Sịa trong chiến tranh đã bị đốt phá tiêu điều. Khi đất nước độc lập, để ổn định dân sinh chính quyền xã Quảng Phước  đã cho xây dựng lại chợ Sịa trên nền cũ có thành và cổng mới. Trên cổng chợ có bốn chữ: “Cầu Chi Tất Đắc ” Ai ai đi chợ thấy bốn chữ “Cầu chi tất đắc “cũng  đều hài lòng. ( Người bán muốn bán cho đắt hàng , người mua tin rằng sẽ mua được giá rẻ. )Thật là ý nghĩa và vô cùng nhân bản. Chợ của mọi người và vì mọi người …!

Hai bên cổng chợ có hai câu đối như sau:

    “Chợ cũ bến xưa, quang cảnh mới,

      Người đông, của có, phố phường vui.” 

(Tôi nghe rằng tất cả các câu trên đều cùng một tác giả đó là thân phụ của cậu Sum).

Đê trường đề

Thứ ba là con đê ngăn nước mặn. Chủ tịch xã Nguyễn Sum đã xin ngân sách Trung ương đắp một con đê ngăn nước mặn khỏi tràn vào đồng ruộng cho nhân dân Sịa có đủ ruộng trồng lúa và dẫn ngược dòng nước ngọt trở lại cho nhà nông đủ nước tưới lúa và rau quả vào mùa hạn hán. Đó là công trình “Đê trường đề ” chạy dài dọc theo phá Tam Giang từ giáp ranh xã Quảng Lợi bao bọc xuống Phước Lâm , Phước Lý ,Hà Đồ , Mai Dương….

Công tác đắp ” Đê trường đề ” rất là vui nhộn! Cờ dông ,trống đánh suốt ngày, ai ai cũng hớn hở hưởng ứng vì họ biết là đắp đê ngăn mặn cho ruộng của làng minh,tức là cho chính mình. Các kỹ sư ty nông nghiệp tỉnh Thừa Thiên  đã thiết kế bản vẽ và hướng dẫn kỹ thuật rất chu đáo cho nên công trình vẫn tồn tại cho đến ngày nay.

Kênh thủy lợi

Sau khi ngăn được nước mặn rồi thì phải cần có nước ngọt cho cây lúa và hoa màu của nhiều cánh đồng nhất là cánh đồng An Gia. Và vì vậy công trình dẫn nước từ sông Sịa tưới cho đồng An gia ra đời vào các năm 1956, 1957, 1958.

Mỗi lần có dịp ra phá Tam Giang hóng mát vào mùa hè khi đi qua hết làng An Gia quí vị sẽ thấy một cánh đồng mướt xanh màu lá mạ ngút ngàn chạy xa tắp đến tận bờ phá Tam Giang đó là nhờ công trình dẫn thủy nhập điền của chủ tịch xã Nguyễn Sum ngày nào.

Có quá nhiều dấu ấn của cậu Nguyễn Sum trên quê hương Sịa. Sau thành phố Huế, Sịa là nơi có trường trung học đầu tiên, cũng là vùng quê đầu tiên được thắp sáng bằng điện. Giao thông được cải thiện rất nhanh chóng. Huế Sịa là tuyến xe đò nhộn nhịp nhất của tỉnh Thừa Thiên, xe lam và xe ngựa chạy ra tới thủy lập và cả phong lai.

An ninh của thôn xóm và nhân dân được bảo vệ rất tốt, hầu như không có trộm cắp và chưa bao giờ xảy ra bất cứ vụ án hình sự nào vào thời đó. Nơi nơi thanh bình và có lẽ Sịa là nơi thanh bình nhất.

Đời sống nhân dân được nâng cao cả vật chất lẫn tinh thần. Văn hoá truyền thống được duy trì tốt qua tất cả lễ hội nhân gian từ đình chùa miếu mạo cho đến nhà thờ họ đạo v.v. Đã có rất nhiều đoàn văn nghệ trung ương về Sịa trình diễn miễn phí cho bà con thưởng thức, phim lưu động được chiếu hầu như hàng tháng. Sịa là địa phương duy nhất của miền Trung tổ chức hội chợ triển lãm thương mãi và nông nghiệp toàn quốc. Điều lý thú của dân Sịa là trong ngày khai mạc họ đã thấy hình ảnh chủ tịch Nguyễn Sum trong Âu phục với bộ Vét tông cà vạt đi bên cạnh quí vị Bộ trưởng của Chính phủ từ Sàigon ra nhìn rất oai vệ!

Thế rồi …

Vì quốc biến cậu Sum ra đi, và đi mãi, không hề nói một chữ về đời mình!

“Cái quan định luận” là chuyện xưa nay, ;áo quan đã khép lại, cậu Sum đã nằm yên trong huyệt mộ vào ngày hôm qua ; trong những thứ linh tinh vật chất mà cuộc đời còn đem theo đến bên mộ người có một vòng hoa nhỏ của đồng hương Sịa…

Những dòng này được ghi vội như một nén nhang xin tiễn biệt một con người đã có công làm cho Sịa văn minh và đẹp đẽ hơn và chính nhờ vậy tôi càng yêu Sịa của tôi hơn ….! 

Xin nghiêng mình Vĩnh biệt Cậu quý mến!

Read more